Phạm Thiên Thư TỰ BẠCH
TRẦN THUẬT NGỮ (ghi)
Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long. Tác phẩm “Đưa em tìm động hoa vàng” (1971) và “Ngày xưa Hoàng Thị” (Phạm Duy phổ nhạc) là những tác phẩm nổi tiếng.
1. Tôi vào chùa sau khi tốt nghiệp tú tài pháp danh Tuệ Không. Họ Phạm nhà tôi có nghề làm thuốc lâu đời ở tỉnh Thái Bình. Cha tôi làm thuốc nhưng ông có làm thơ. Thời gian ở chùa tôi say mê nghiên cứu nhiều thứ, trong đó có thiền, ngoại cảm tâm linh… Khi ấy thơ chỉ để cho mình và bạn hữu. Đến khi gặp Phạm Duy qua lời giới thiệu của nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh, “Đạo ca” mới có duyên ra đời, tôi mới được biết đến rộng rãi như một thi sĩ. Còn vào chùa lúc ấy tôi bị bệnh liên miên. Nghiên cứu thiền cũng là học cách khỏe nhanh. Học được cái gốc để bệnh mình tự giải quyết lấy.
2. “Đưa em tìm động hoa vàng” tôi viết trong khoảng một tuần. Còn nhớ hồi 19 tuổi, tôi cùng một số bạn bè lập Học hội Hồ Quí Ly vì nể người này có công ủng hộ văn hóa chữ Nôm. “Động Hoa Vàng” lấy bối cảnh chùa Hun, tên chữ là Thiên tư Phúc tự (chùa được trời ban phúc) ở núi Côn Sơn – mảnh đất gắn bó với nhiều danh nhân đất Việt như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi. Tôi trải qua một phần tuổi thơ ở ngôi chùa núi đá trắng đó. Một trăm khổ thơ bốn câu trong “Động hoa vàng” là một trăm bài thơ tả khuôn diện của thiên nhiên, con người, tình yêu, nỗi buồn… Thiên nhiên tự nó lộ chân tướng. Tôi chỉ mượn ngôn từ đẹp, hình ảnh đẹp để nắm bắt lại, vẽ lại cái tướng, cái thần ấy mà thôi. 3. Từ tình yêu thiên nhiên, nhà thơ Phạm Thiên Thư đã đến với Quảng Ngãi thập nhị cảnh – như một lời tỏ tình thiên thu gởi nghìn trùng mây trắng…
1. ĐẦU RỒNG VẪY NƯỚC
Long Đầu Hý Thủy
Rồng xanh xuống rỡn nước sông Trà
Nước tỏa đầu Rồng – sông vãi hoa
Lớp lớp đá cao soi đáy biếc
Long lanh cát trắng nhuộm dương tà
Mây nghiêng Thiên Ấn in vàng đậm
Gió vọng Sa Kỳ động sóng xa
“Hý Thủy Long Đầu” gieo nhật nguyệt
Sông Trà khúc nổi cuộn yên ba.
2. NÚI THIÊN ẤN
Thiên Ấn Niêm Hà
Vuông vức in xanh – núi ấn trời
Đá hoa sớm tối – bốc mù hơi
Bốn phương quần tụ – mây làm tổ
Một nét thơ đề – sông hướng khơi
Cong vắt chùa xưa – dầm nguyệt dãi
Lô nhô tháp cổ – lạnh sao rơi
Có Thầy đào giếng khơi dòng nước
Biến mất vào thiên ấn độ đời.
3. BÚT TRỜI PHÊ VÂN
Thiên Bút Phê Vân
Đất núi lên trời ngọn bút lông
Viết mây năm sắc gió phiêu bồng
Văn chương điệp điệp – non hồng ngọn
Phù thế phiêu phiêu liễu biếc lòng
Đầu Phật ai chôn hằn nhật nguyệt
Nóc chùa trời lập nếp rêu phong
“Phê Vân Thiên Bút” – mây cuồn cuộn
Trời có hay đâu bút nặng lòng.
4. TRẬN ĐÁ LA HÀ
La Hà Thạch Trận
Nghìn trước Sơn Tinh trấn Thủy Tinh
“La Hà Thạch Trận” đá bày binh
Sóng xô hai mũi mây giăng lưới
Đá dựng ngàn chòm – đất giải đinh
Trận thế thiên thu – hoa trắng bãi
Núi sông muôn thuở – nước thanh bình
Về thăm di tích, con diều đậu
Rúc lạnh trời cao, tiếng ốc linh.
5. BẾN CHIỀU VEN SÔNG
Hà Nhai Vãn Độ
Khói sóng ven sông tỏa ráng điều
Bến đò đôi cụm, đá xiêu xiêu
Hắt hiu cầu uốn nhòa sông nước
Róc rách dòng tuôn lạnh thủy triều
Một chiếc đò ngang sào quạnh quẽ
Đôi dòng khói nhẹ bếp cô liêu
“Hà Nhai Vãn Độ” hoa vàng nở
Thoảng tiếng “Đò ơi” gió rụng chiều.
6. XÓM VẮNG THÀNH XƯA
Cổ Lũy Cô Thôn
Một dãy trường thành trấn ải biên
Còn viền dương lạnh gác bên triền
Cô thôn trúc lặng – sương nhòa khói
Cổ Lũy thành trơ – gió thoảng nền
Buồm cá nâu vênh bờ bến đậu
Đàn cò trắng nổi cụm tùng lên
“Cô Thôn Cổ Lũy” hư mà thực
Dù chỉ nghe qua cũng chạnh niềm.
(Ảnh: Chiều về trên sông Cổ Lũy của Đ.V)
7. GIÓ SÔNG MƯA RỤNG
Giang Phong Túc Vũ
Núi dựng sông xanh vắt một tờ
Dập dờn ngựa sóng cuộn bờm thơ
Dòng xuôi sàn sạt gươm mài đá
Gió thổi hiu hiu – bọt vẫy cờ
Lác đác hoa rừng về góc biển
Cao cao tùng bách trải đồi tơ
“Giang Phong Túc Vũ” sông thành nhạc
Đâu chiếc đò trăng gác mái chờ.
8. ĐÁ XANH NẮNG QUÁI
Thạch Bích Tà Dương
Nách đá cao xanh trải nắng tà
Lơ thơ cổ thụ lối vàng hoa
Đôi dòng suối nhỏ phơi râu bạc
Một nhịp cầu ngang bắc lược ngà
Thoang thoảng gió vào thơm cửa động
Líu lo tiếng hót – lạnh sơn ca
“Tà Dương Thạch Bích” còn mây trắng
Tiên nữ xa rồi – nhạn vẫn sa.
9. BIỂN YÊN CÁT BÃI
An Hải Sa Bàn
Biển cát vàng bên biển nước xanh
Đôi cao cao trắng xếp mây thành
Dã tràng giăng đón trùng dương lại
Sóng cát bay mờ ngọn gió quanh
Đêm dưới thuyền, trăng neo nửa mặt
Ngày trên xe lửa đẩy nguyên vành
“Sa Bàn An Hải” trần duyên hợp
Bóng mát thùy dương lả mấy nhành.
10. AO SEN ĐỘI NGUYỆT
Liên Trì Dục Nguyệt
Trên nổi hồ mây, dưới đáy mây
Lá sen lam biếc nguyệt chan đầy
Sao khuya xuống đậu đôi viền lá
Vạc lạnh về đưa mấy võng cây
Lác đác đài hương vàng cánh đậm
Lơ thơ nhành liễu biếc tơ gầy
“Liên Trì Dục Nguyệt” trăng đưa lối
Một chiếc thuyền con rẽ khói vây.
11. MÁY ĐÁ CHIM BAY
Thạch Cơ Điếu Tẩu
Vách đá cao cao mây tiếp mây
Chõm xanh oằn xuống nhánh thông gầy
Chiều về cò trắng như hoa rụng
Sáng lại sương hồng tựa khói vây
Róc rách dòng trong khe cá biếc
Chênh vênh cầu uốn nhịp tre gầy
“Thạch Cơ Điếu Tẩu” ai qua đó
In bóng sườn non – chiều nắng bay.
12. NAI TỤ NON VU
Vu Sơn Lộc Trường
Trên đỉnh Vu Sơn thảm cỏ xanh
Khe rêu vàng đẫm nguyệt chia vành
Hoa neo ngọc lại – hai bờ mộng
Hươu cõng sao về – mấy nét tranh
Một tiếng “tác” ngân sương lác đác
Đôi tờ lá rụng nước chòng chành
“Vu Sơn Trường Lộc” hươu quần tụ
Thấp thoáng sao rừng gió uốn quanh.
Nguồn: Tạp Chí Cẩm Thành
Filed under: BlogAdmin










ai co sach cu~ Ve` quang? ngai~ Can`g lau cang tot xin mail cho chau ! chau dang rat can` !